Chủ Nhật, 6 tháng 3, 2016

Từ satna đến thời gian khoảnh khắc và yếu tố bất ngờ trong thơ Haiku Nhật Bản



 Từ satna đốn ngộ đến thời gian khoảnh khắc và yếu tố bất ngờ trong thơ Haiku Nhật Bản





Phương Tây có Rondeau, Ballad, Sonnet... Phương Đông có Đường thi, cổ phong, có Sloka, có Sijo, lục bát... đều là những thể thơ cổ ngắn gọn, nhỏ nhắn, xinh xắn như lá trên cành. Các thể thơ trên đều được ghi nhận như những thành tựu đỉnh cao trên hành trình văn học và thi ca cổ điển của dân tộc và thế giới. Trong vườn hoa thơ ca ấy có thể thơ Haiku của Nhật Bản với 17 âm tiết (5-7-5) thật đơn sơ và dung dị. Có thể ví von Haiku như chiếc lá bé nhỏ nhất trên cội cành xum xuê của cổ thụ ngàn thơ.

Tại sao ngày xưa và đến cả ngày nay, không chỉ người Nhật mà cả thế giới Đông - Tây đều yêu thích và lựa chọn thể thơ này làm phương tiện nghệ thuật hữu hiệu để trao gởi nhận thức, tâm tư tình cảm hay để nhằm mài sắc, khai mở tuệ giác mà đạt đại ngộ như các thiền sư xưa?

Chúng ta có thể tìm ra được thật nhiều câu trả lời với nhiều phần trăm chính xác cho câu hỏi trên. Một trong những đáp án thú vị nhất đó chính là yếu tố bất ngờ và hiệu quả thẩm mỹ kỳ lạ do nó mang lại. Trước khi giải mã cấu tứ bất ngờ của những bài thơ Haiku, có lẽ cần thiết phải có những hiểu biết cơ bản về cơ sở triết học thâm sâu của nét đẹp nghệ thuật đặc thù này. Đó chính là khái niệm “satna đốn ngộ” trong tư tưởng triết học Phật giáo Thiền tông.

1. Từ “satna đốn ngộ” của Thiền tông...

Đi vào đời sống tâm linh tín ngưỡng của người Nhật trên đảo quốc xa xôi rất sớm từ khoảng thế kỷ VI, Phật giáo nói chung và Thiền tông nói riêng từng bước thấm dần vào mọi ngóc ngách đời sống văn hóa tinh thần Nhật Bản, hòa lẫn vào tín ngưỡng Shinto khởi nguyên và tín ngưỡng Cái Đẹp của người Nhật. Haiku là một thể loại văn học thấm đẫm vị Thiền. Nếu phân tích từ góc nhìn nội dung tư tưởng, ta sẽ thấy Haiku phát lộ tinh thần Phật giáo Thiền Tông trong các cảm thức thẩm mỹ: sabi (Tịch), wabi (Đà), aware (Bi), yugen (Huyền) và Karumi (Khinh), trong cả tư tưởng chúng sinh bình đẳng, trong tinh thần vô ngã, vô chấp, vô ngại, trong mục đích giác ngộ thâm sâu huyền diệu của Phật giáo. Muốn giác ngộ được chân lý, con người phải bắt đầu từ những satna, mỗi satna đưa con người xa dần cõi tà và đến gần với miền Tịnh độ. Đường đi vạn nẻo, đạo lý cũng vô cùng, không phải cầu là được.

Vậy “satna đốn ngộ” là gì? Trong các từ điển tiếng Việt, trong ngôn ngữ thuyết giáo nhà Phật và trong cả ngôn ngữ đời thường, chúng ta vẫn thường hay dùng từ “ngộ”. Đó chính là cách hiểu, cách nói vắn tắt, giản dị, mộc mạc từ khái niệm cao siêu “satna đốn ngộ”.

“Từ điển Nho-Phật-Đạo” giải thích: Satna (Ksana) là “thuật ngữ Phật giáo dùng để chỉ quãng thời gian ngắn nhất”. Còn “đốn ngộ” là “thuật ngữ Phật giáo chỉ việc không cần tu hành lâu dài, mà dựa vào linh tính bỗng nhiên giác ngộ Thiền lý, nắm vững tôn chỉ của Phật... phái Nam Tông đề xướng đốn ngộ” [1]. Kết hợp hai thuật ngữ trên ta có thể hiểu một cách tổng hợp và ngắn gọn: “Đốn ngộ là một thuật ngữ của Thiền học. Có nghĩa là ”lập tức giác ngộ, tức khắc tỉnh ngộ“ Sự bừng ngộ này xảy ra trong khoảng thời gian cực ngắn mà tiếng Sanskrit gọi là ksana [2,170].

2. ... đến thời gian khoảnh khắc và yếu tố bất ngờ trong thơ Haiku

Từ một kiến thức lý luận cơ bản như vậy, soi vào thế giới nghệ thuật thơ Haiku, ta mới thấy sự muôn màu của cuộc sống và chân lý. Satna đốn ngộ làm nên đặc trưng thẩm mỹ của Haiku, thành bản chất nghệ thuật của thể loại thơ cổ điển này, là cơ sở tạo nên yếu tố bất ngờ có thể được xem như cái cốt lõi của cấu tứ bài thơ, tạo ra cái duyên độc đáo và sức thu hút kỳ lại của những bài thơ bé cỏn con này.

Nếu sơ bộ làm công việc thống kê, dù không có một con số cụ thể, chỉ bằng cảm tính và nhẩm tính, cũng có thể khẳng định hơn một nửa số bài haiku có chứa yếu tố bất ngờ trong thời gian khoảnh khắc. Đó chỉ là những bài thơ mà yếu tố bất ngờ phát lộ, chưa kể đến những bài thơ mà yếu tố bất ngờ ẩn tàng nấp kín, phát hiện được hay không còn tùy thuộc vào cảm nhận, tiếp nhận của bạn đọc. Khảo sát yếu tố bất ngờ trong thơ Haiku thường gắn với việc phát hiện thời gian khoảnh khắc. Việc tiếp cận những bài thơ nhỏ bé này để khai thác yếu tố bất ngờ cũng không đơn giản. Có nhiều con đường đưa ta vào Haiku vạn nẻo và không có cái bất ngờ nào giống cái bất ngờ nào cả!

Xuất phát từ vị trí, điểm nhìn và trạng thái cảm xúc ta có ba chủ thể chính được được đưa vào tư thế bất ngờ, đó là chủ thể thẩm mỹ, khách thể thẩm mỹ và độc giả. Có bài thơ chủ yếu sự bất ngờ xảy ra cho một trong ba chủ thể trên, nhưng phần lớn các bài đều tạo hiệu quả bất ngờ cho cả ba chủ thể, nhất là chủ thể thẩm mỹ - người sáng tạo nghệ thuật, và độc giả - người thưởng thức, đồng cảm và đồng sáng tạo. Xét về cấu tứ bài thơ và kết cấu thứ tự các câu thơ, phần lớn yếu tố bất ngờ thường rơi vào câu thơ thứ ba - câu thơ có vai trò kết thúc bài thơ, nhưng lại mở ra chân trời cảm xúc và suy tưởng. Tuy nhiên, trong rất nhiều bài thơ, yếu tố bất ngờ có thể xuất hiện ở ngay câu đầu tiên, hoặc ở câu thứ hai hoặc ở cả ba câu thơ, tạo nên một hiệu quả bất ngờ trùng điệp (vì khảo sát qua các bản dịch thơ vốn thường phải đạt chữ ”tín“ lẫn chữ ”nhã“, nên chúng tôi tránh sự khẳng định thứ tự câu thơ một cách tuyệt đối khi chưa có điều kiện đối chiếu với nguyên tác). Yếu tố bất ngờ không phải là nét đặc điểm nghệ thuật duy nhất của thơ Haiku, nên khi cảm thụ một bài thơ cụ thể, việc lẩy ra một yếu tố bất ngờ chỉ là một thao tác phân tích nghệ thuật có tính ước lệ. Trên thực tế, trong quá trình cảm thụ phân tích, cần phải thấy mối liên kết thầm lặng giữa các phạm trù thi pháp thơ Haiku trong mối qua hệ tổng hòa các cảm thức thẩm mỹ. Cũng cần phải xác định rằng, Haiku trước hết là thi ca chứ không phải kinh kệ, cho nên chúng ta đừng nhầm lẫn, tránh đồng nhất Thi và Thiền. Có những nhà thơ là người của cửa Thiền như Basho, Chiyoni, Ryokan,... cũng có rất nhiều thi nhân là người thế tục. Nhưng điều đó không quan trọng bởi vì ”Phật tại bản tâm“. Vì vậy ta có thể lọc ra, hứng lấy một chút hương vị Thiền trong các bài Haiku một cách tự nhiên mà không định danh Haiku là Thiền Thi. Đã biết Thiền vốn ”bất lập văn tự“, vậy cứ thế mà cảm, mà tri, mà ngộ, tránh áp đặt mọi giáo lý cho thi ca. Hơn nữa, trong Haiku còn rất đậm dấu ấn của Thần đạo (Shinto), Đạo giáo và tín ngưỡng Cái Đẹp của người Nhật. Và trong mỗi chủ thể thẩm mỹ sáng tạo là hình tượng tác giả cũng khó phân định rạch ròi hai bản thể thiền sĩ và thi nhân. Thiền sư ngộ đạo, nhà thơ cứ ngộ đời. Đạo và đời vốn dĩ đâu phải là hai con đường song song vô tận?

Trong chương trình văn học phổ thông có tám bài Haiku được giới thiệu. Trong đó, bài số 1 và số 2 được phân tích nhiều nhất với điểm sáng thẩm mỹ là satna đốn ngộ và yếu tố bất ngờ.

Đất khách mười mùa sương

Về thăm quê ngoảnh lại

Edo là cố hương (Basho)

Sinh ra ở Iga, gắn bó nhiều với Kyoto và đôi lần dừng chân ở Edo, bấy giờ là thủ phủ của chính quyền Tokugawa, hình như Basho vẫn cứ ngỡ Edo là quê người đất khách. Hơn mười năm sương gió được Edo bao bọc, thi nhân vẫn ngóng vọng về Iga quê mẹ. Cho đến một ngày từ biệt Edo, chính trong cái phút giây từ biệt ấy, nhà thơ mới thảng thốt nhận ra Edo từ đây đã trở thành cố hương, điều đó có nghĩa là bao mùa sương qua, Edo đã là quê hương thương yêu trong ta mà ta nào có biết. Cái khoảnh khắc quay đầu ngoảnh lại ấy thật cảm động và bất ngờ biết bao! Nhà thơ Giả Đảo đời Đường hơn 800 năm trước trong bài thơ ”Độ Tang Càn“ khi qua sông, bến Tang Càn khuất bóng, cũng hốt nhiên nhận ra ”khách xá Tịnh Châu dĩ thập sương“ đã trở thành ”Tịnh Châu thị cố hương”.

Chim đỗ quyên hót / ở kinh đô / mà nhớ kinh đô (Basho)

Người Nhật gọi chim đỗ quyên là chim thời gian (hototogishu). Đó là một thi liệu truyền thống mang tính ước lệ cao, vừa có ý nghĩa nhớ nước thương nhà, lại có ý nghĩa tiếc nuối thời gian, hối tiếc cho cái vô thường đã qua, đã mất. Chính cái khoảnh khắc giao mùa xuân - hè ấy, nghe một tiếng chim thời gian mà bỗng nhiên thi nhân nhận ra nỗi nhớ tiếc khôn nguôi một không gian xưa trong một thời gian quá khứ. Nếu ở bài thơ trên, phút ra đi nhà thơ mới ngộ Edo là quê hương, là cố hương, thì ở bài này yếu tố bất ngờ lại mang một nội hàm dáng vẻ khác: lạ chưa kìa, chưa xa mà đã nhớ, đang ở mà sao lại da diết tiếc thương! Có lẽ vì trong cái tiếng kêu khắc khoải của con chim thời gian ấy, có kinh đô của hơn hai mươi năm trước, có kinh đô của hiện tại đong đầy và có cả kinh đô của ngàn sau, có ta - Basho của tuổi ngoài hai mươi trai trẻ, có ta nay của xấp xỉ ngũ tuần tóc chớm bạc và biết đâu có cả ta của thiên thu vĩnh cửu. Nhịp thời gian chợt dừng lại trong một điểm thời gian ấy, khi con chim đỗ quyên kia nức nở hót bên thềm. Bài thơ giúp người đọc ngộ ra một điều sâu sắc: trong cái hiện tại của ta có cái quá khứ mà ta nâng niu trân trọng và cái hiện tại này rồi cũng sẽ là quá khứ tiếc thương của một ngày mai không xa trên dòng thời gian miên viễn.

Basho đã từng làm kinh ngạc đến ngẩn ngơ một nhóm người yêu thơ trên đường thiên lý mà ông tình cờ gặp gỡ. Để lại một bài thơ kỷ niệm nhân duyên hội ngộ, mực chưa kịp ráo, người đã tiếp tục hành trình, chỉ còn lại một vầng trăng tỏa sáng, không dùng một từ ”tròn“ mà viên mãn một trời thơ.

Vầng trăng non dại / Theo tôi từ độ ấy / Có ai ngờ đêm nay (Basho)

Nhiều bài haiku xuất hiện cảm từ, hô ngữ ”A!“ như một tiếng reo vui trước một sự xuất hiện bất ngờ của một khách thể thẩm mỹ đáng yêu nào đó.

Dầu đã cạn / tôi xếp sách đi ngủ / a! chiếc gối ngời ánh trăng (Basho)

Bài thơ không hề nói mà ta biết rằng thi nhân đã mải mê đọc sách đến rất khuya. Và đến lúc định ngả lưng xuống gối thì bất ngờ thay, đẹp quá đến nỗi nhà thơ phải reo lên: ”A! chiếc gối ngời ánh trăng“. Một sự xuất hiện bất ngờ của một người bạn đến cũng thật bất ngờ, một vẻ đẹp bất ngờ và huyền diệu quá! Đó là sự tương giao đồng cảm tuyệt vời giữa con người và vũ trụ mà ta thường bắt gặp trong nhiều bài haiku nhưng chưa bao giờ ta hết bất ngờ, ngạc nhiên và thích thú!

Nếu vầng trăng tra cán, / a rạng ngời / chiếc quạt (Sokan)

Thật là một phát hiện, một liên tưởng ngộ nghĩnh!

Nữ sĩ Thiền ni Chiyoni cũng đã có lần reo lên như vậy:

A! Asagao / Dãy gầu vương hoa bên giếng / Đành xin nước nhà bên

Câu đầu tiên là một sự xuất hiện quá đỗi bất ngờ của những bông hoa leo Asagao (tức hoa triêu nhan - gương mặt buổi sáng) khi Chiyo một sáng tinh mơ ra giếng khơi múc nước, bất ngờ gặp một đóa triêu nhan nở trong sương sớm. Câu thứ hai là một vẻ đẹp đến bất ngờ khi sức sống mãnh liệt khiến Asagao bò đến quấn quít vào sợi dây gàu bên giếng. Cái mảnh mai xanh non dịu dàng của loài dây leo bỗng làm mềm mai hóa dây gầu xù xì thô ráp. Sự tương phản và tương hợp ở đây kết hợp thật hài hòa để làm nên một cái đẹp tự nhiên tinh khiết đến bất ngờ. Câu thứ ba lại là một sự bất ngờ khác. Chỉ cần nói ”đành xin nước nhà bên“, nhân vật trữ tình đã có một hành động đẹp thầm lặng và bất ngờ. Bài thơ có nhiều khoảng trống vắng. Chấm phá trên nền trống vắng ấy là cái đẹp bất ngờ của tự nhiên và của cả cách ứng xử, sự nâng niu trân trọng cái đẹp của con người, của những tâm hồn Nhật Bản.

Có khi vì quá xúc động trước cái đẹp quá lồng lộng, quá bất ngờ, nhà thơ chỉ còn biết thốt lên:

Kìa Tùng Đảo (Matsushima)/ ô kìa Tùng Đảo / kìa Tùng Đảo! (Basho)

Còn nhiều lắm những cái đẹp bất ngờ trong một khoảnh khắc nào đó của cuộc sống bỗng nhiên xuất hiện.

Bông hoa đỏ rụng / giữa phân ngựa / cháy thành ngọn lửa (Buson)

Phân ngựa hay bao nhiêu hình ảnh mộc mạc, xù xì thô ráp xấu xí khác đều vào thế giới haiku để thành thơ, thành cái đẹp của cuộc đời. Đám phân ngựa bẩn thỉu nghèo nàn kia cũng là cái đẹp, càng đẹp hơn khi nó hài hòa cùng bông hoa đỏ kiêu sa để bùng lên thành ngọn lửa nóng ấm, sáng chói, huyền bí như một vị thần.

Cũng với hai hình ảnh vừa tương phản vừa tương hợp kỳ lạ, ta còn có một bức tranh thủy mặc đẹp đến bất ngờ trong cái nhìn vô chấp của thiền sư:

Con quạ ô, / sớm mai trong tuyết / đẹp không ngờ (Basho)

Đó có thể là phút gặp gỡ bất ngờ giữa tử đằng và người lữ khách mệt mỏi bụi đường, là duyên kỳ ngộ giữa hoa và người:

Mỏi gót lang thang / đêm tìm quán trọ / gặp hoa tử đằng (Basho)

Cũng là phút gặp gỡ tình cờ đó, nhưng rồi cũng bất ngờ vụt mất nhau trên đường đời xa ngái:

Ngoái cổ ngó lại, / người tình cờ gặp / đã bụi mù lạc mất (Shiki)

Có thể là cuộc hội ngộ chào đón quá bất ngờ đến đau lòng người về quê cũ:

Về làng cũ, / những bụi hoa xưa / xìa gai ra đón (Issa)

Nhưng cũng có thể là một món quà dễ thương đến bất ngờ của mùa đông:

Cời lửa lên nào, / tôi có món quà kỳ diệu / nắm tuyết trắng phau (Basho)

Và khi đông qua, xuân đến lại một cảnh đông vui đáng yêu bất ngờ khác:

Tuyết tan /làng quê ngập tràn/ trẻ con (Issa)

Rồi mặt trời đỏ xuất hiện mang một sức mạnh thiêng liêng thật hùng vĩ và bất ngờ:

Mùa hoa mơ ơi / con đường núi mọc / bỗng nhiên mặt trời (Basho)

Hay một âm thanh bất ngờ của cuộc sống:

Bão giông nguôi ngớt / cổ thụ vắng ngắt, / tiếng ve sầu (Shiki)

Một đêm băng giá mùa đông, một điều huyền diệu đã xảy ra:

Bất ngờ ta thức / cùng đêm băng giá / khi vò nước vỡ (Basho)

“Thức“ ở đây không còn là một trạng thái sinh lý mà là một khái niệm tinh thần. Tiếng vò nước vỡ giữa đêm dài thanh vắng buốt giá mang đậm cảm thức Sabi (Tịch) không chỉ là một tiếng vang của cuộc sống mà còn là âm thanh của sâu thẳm tâm linh và của đêm huyền diệu. Đó là khoảnh khắc bất ngờ đốn ngộ đưa con người hòa vào vô tận trời đêm, vô cùng cuộc sống.

Thiền sư Ryokan lại làm ta phải bật cười khi ông mừng rỡ như đứa trẻ thơ vì:

Kẻ trộm kia, / đã không lấy đi / vầng trăng nơi cửa sổ

Thật là một niềm vui bất ngờ và ngộ nghĩnh! Làm sao tên trộm lấy đi được vầng trăng? Mà có ai lại xem trăng là của riêng mình chứ!

Trong giông bão, / áo rơm người chèo chống, hóa áo hoa đào (Basho)

Cái đẹp bất ngờ ấy đã giúp ta ngộ ra, nhận ra sức mạnh và vẻ đẹp của người lao động, lam lũ vất vả mà vẫn hết sức lãng mạn, tao nhã, thanh cao.

Ngày đầu xuân / sao mà tôi nhớ / chiều thu cô đơn (Basho)

Sự chuyển đổi tâm trạng kỳ lạ trong bài thơ đã tạo nên một cảm xúc ngược chiều bất ngờ trong cả chủ thể và khách thể trữ tình.

Dưới cây lao xao / chén canh, đĩa cá / đều vương hoa đào (Basho)

Bài thơ là một bữa tiệc bất ngờ, bữa tiệc hoa! Cũng theo tín ngưỡng của người Nhật, nếu hoa đào rơi vào cốc chén của người thưởng hoa, người ấy sẽ có được lộc xuân và niềm vui bất ngờ.

Còn biết bao bài thơ Haiku chứa đựng trong nó những khoảnh khắc bất ngờ muôn màu muôn sắc, muôn hình muôn vẻ. Trong đó có những bài thơ yếu tố bất ngờ không phát lộ tường minh mà tàng ẩn thật sâu xa:

Ao cũ / con ếch nhảy vào / vang tiếng nước xao (Basho)

Bước nhảy của con ếch nhỏ đã đánh thức cả vũ trụ tịch liêu. Sự yên tĩnh tuyệt đối của mặt nước, của không gian, của thời gian, của vũ trụ chỉ trong một tích tắc bỗng dưng bị phá vỡ. Rồi cũng chỉ trong chớp mắt, vạn vật lại trở về trạng thái lặng yên vĩnh cửu. Lắng nghe dư âm, lặng nhìn dư ba, Thiền sư hốt nhiên đốn ngộ ta và vũ trụ này là nhất thể khởi nguyên.

Tiếng thủy âm trong bài thơ này cũng giống như âm vang tiếng đồng vọng trong bài thơ sau:

Tôi vỗ bàn tay /dưới trăng mùa hạ/ tiếng dội về ban mai (Basho)

Nhiều bài thơ của Basho đẹp và sinh động như một bức tranh tả cảnh, có vẻ như không liên quan gì đến ”đốn ngộ“ với ”bất ngờ“!

Trên cành liễu nghiêng ,

con bướm đổi chỗ

mỗi lần gió lên (Basho)

Thực ra, khi quan sát động thái của con bướm trong tương quan với cành liễu và cơn gió, Thiền sư đã thấy con người và con bướm kia là một. Cuộc sống là một dòng biến chuyển không ngừng, ta hãy như con bướm kia trên cành liễu nghiêng trong trạng thái cân bằng an nhiên tự tại. Cám ơn cánh bướm bé nhỏ đã mở lối vào đường Thiền thênh thang, vào đường đời gập ghềnh vạn nẻo!

Đến từ cuộc sống rồi tan biến vào cuộc sống, mang hơi thở và nhịp đập của cuộc đời, Haiku vì thế chứa đựng trong nó yếu tố bất ngờ là một điều giản dị, tự nhiên, dễ hiểu và thuận lý. Tìm hiểu về satna đốn ngộ, thời gian khoảnh khắc và yếu tố bất ngờ trong thơ Haiku chính là con đường học thuật dẫn dắt đến thế giới nghệ thuật thơ Haiku, thế giới của Cái Đẹp, của văn hóa Phù Tang. Nó giúp ta tiếp cận và giải mã được một kiểu cấu tứ độc đáo của Haiku và góp phần khẳng định sức sống, sức hấp dẫn kỳ lạ của thể thơ bé nhỏ nhất trong thế giới rộng lớn này. Và hình như còn nhiều hơn thế nữa, nó giúp ta giác ngộ được bao điều sâu sắc, mở ra trước mắt ta thế giới Cái đẹp muôn màu và dẫn dắt ta tìm được sự bình tâm an lạc trên mọi nẻo trường đạo lẫn đường đời

Hoàng Xuân Vinh




chính sách tỷ giá trong bối cảnh phục hồi kinh tế

Bài Báo Khoa Học Nghiên Cứu Kinh Tế Vĩ Mô Việt Nam

Lựa chọn chính sách tỷ giá trong bối cảnh phục hồi kinh tế





Trên cơ sở xem xét chính sách tỷ giá của Việt Nam trong gần hai thập niên gần đây, trong bối cảnh thế giới có nhiều biến động gần đây, bài nghiên cứu này khuyến nghị rằng nhanh chóng dịch chuyển sang cơ chế tỷ giá thả nổi có quản lý là lựa chọn khôn ngoan cho Việt Nam trong thời gian tới.

Việt Nam đã hội tụ đủ một số các điều kiện quan trọng như giá cả của hầu hết các loại hàng hóa đã vận hành theo cơ chế thị trường, và tuy có độ mở của nền kinh tế lớn nhưng Việt Nam không phụ thuộc quá nhiều vào một đối tác thương mại nào. Để chính sách tỷ giá thả nổi có kiếm soát thực sự phát huy tác dụng, làm nâng uy tín của VND, thì Việt Nam cần phải chuẩn bị thêm một số điều kiện khác như:

(i) Xây dựng một ngân hàng trung ương hoạt động tương đối độc lập có nhiệm vụ chính là kiếm soát lạm phát theo mục tiêu và

(ii) Xây dựng thị trường ngoại hối hiện đại sao cho có nhiều sản phẩm phái sinh liên quan đến ngoại hối có tác dụng phòng ngừa và chia sẻ rủi cho cho nền kinh tế và hấp dẫn được nhiều tác nhân kinh tế tham gia.

Trong quá trình chuẩn bị các điều kiện còn thiếu để chuyển hẳn sang cơ chế tỷ giá thả nổi có quản lý, NHNN cũng cần có những biện pháp nhằm giảm bớt những hạn chế của cơ chế điều hành tỷ giá hiện tại. Công khai thường kỳ chính sách tỷ giả, áp dụng các chính sách lãi suất để nâng cao uy tín VND, và áp dụng một số biện pháp thuế quan ở mức hợp lý nhằm giảm áp lực giảm giá VND là các chính sách cần quan tâm trong thời gian tới.

Dẫn nhập


Kể từ sau sự sụp đổ của các chế độ bản vị vàng (trước Thế chiến thứ Hai) Và chế độ Bretton Woods[6] mà thời kỳ hoàng kim là giai đoạn 1958-1971, đã nhiều cơ chế tỉ giá xuất hiện trên thế giới. Một quốc gia lựa chọn một cơ chế tỉ giá nào đó không những phụ thuộc vào lợi ích mà cơ chế đó đem lại cho nền kinh tế tại thời điểm đó mà còn phụ thuộc vào việc liệu quốc gia đó có thể duy trì được cơ chế đó như nó đã hứa hay không. Chẳng hạn, nếu một quốc gia lựa chọn chính sách tỉ giá cố định thì vấn đề đặt ra là liệu quốc gia đó có khả năng duy trì được tỉ giá đã tuyên bố hay không trước các biến động bên ngoài. Và nếu quốc gia chọn cơ chế tỉ giá thả nổi thì liệu nền kinh tế có khả năng chấp nhận được sự dao động của tỉ giá theo thời gian hay sau đó lại phải quay trở lại các biện pháp can thiệp trực tiếp? Ngoài ra việc lựa chọn cơ chế tỉ giá còn phụ thuộc vào điều kiện kinh tế, vào khả năng quản trị hệ thống tài chính của ngân hàng của quốc gia, và vào thứ tự ưu tiên trong chính sách[7].

Năm 2009 là năm đánh dấu nhiều biến động cả trên thị trường ngoại hối lẫn các phản ứng chính sách trước những biến động đó ở Việt Nam. Trên thế giới, xu hướng chuyển dịch tương quan giữa các đồng tiền dưới tác động của cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới có ảnh hưởng không nhỏ đối với cán cân thanh toán, các luồng đầu tư nước ngoài vào Việt Nam cũng như các chính sách vĩ mô của Việt Nam đặc biệt là các chính sách liên quan đến tăng trưởng và kiểm soát lạm phát. Ở trong nước, sự mất giá liên tục của tiền đồng và những thay đổi trong chính sách quản lí tỉ giá gây tâm lí lo ngại của người dân. Điều này dẫn đến nhu cầu cần xem xét lại cơ chế điều hành tỉ giá hiện nay của Việt Nam và liệu đã đến lúc Việt Nam cần chuyển sang một cơ chế điều hành khác.

Gần đây, ngày càng xuất hiện nhiều những nỗ lực nghiên cứu về cơ chế tỉ giá của ViệtNam. Đáng kể nhất trong số đó là các nghiên cứu của Võ Trí Thành et al. (2000), Ohno (2003), Nguyễn Trần Phúc và Nguyễn Đức Thọ (2009). Các nghiên cứu này đều chỉ ra rằng cơ chế tỉ giá của Việt Nam, một mặt cần được duy trì ổn định, nhưng mặt khác nên linh động hơn nữa theo tín hiệu thị trường. Võ Trí Thành et al. (2000) Đề xuất Việt Nam nên theo cơ chế neo tỉ giá theo rổ tiền tệ với biên độ điều chỉnh dần (Band-Basket-Crawling) Còn Ohno (2003) Đề xuất Việt Nam nên theo cơ chế neo tỉ giá có điều chỉnh (crawling peg). Trên thực tế, trong những năm vừa qua Việt Nam đã theo đuổi cơ chế neo tỉ giá có điều chỉnh như đề xuất của hai nghiên cứu trên. Nhưng hai nghiên cứu gần đây của Nguyễn Trần Phúc và Nguyễn Đức Thọ (2009) Và Nguyễn Trần Phúc (2009) Lại chỉ ra rằng cơ chế neo tỉ giá có điều chỉnh này không hoạt động hiệu quả, gây ra các bất ổn cho thị trường tài chính. Không những thế, nó còn ngăn cản sự phát triển của thị trường ngoại hối của Việt Nam.

Bài nghiên cứu này xem xét các xu hướng cơ chế tỉ giá trên thế giới trong những thập niên vừa qua, triển vọng trong thời gian tới, và đánh giá cơ chế tỉ giá hiện tại của Việt Nam.

Tương tự Nguyễn Trần Phúc (2009), chúng tôi cho rằng cơ chế neo tỉ giá có điều chỉnh của Việt Nam hiện nay hoạt động không hiệu quả. Chúng tôi còn cho rằng Việt Nam đã “bơi’ đến giữa dòng của hai dải cơ chế tỉ giá và tốt hơn cả là Việt Nam nên ‘bơi nhanh hơn’ sang chế độ tỉ giá thả nổi có quản lí thay vì quay trở lại cơ chế neo tỉ giá như trong các giai đoạn sau khủng hoảng trước đây. Một số điều kiện cần đạt được để áp dụng hiệu quả cơ chế tỉ giá thả nổi có quản lí cũng sẽ được xem xét.

Xu hướng áp dụng các chế độ tỉ giá trên thế giới


Xu hướng gần đây


Kể từ sau sự sụp đổ của các chế độ bản vị vàng (trước Thế chiến thứ Hai) Và chế độ Bretton Woods mà thời kỳ hoàng kim là giai đoạn 1958-1971, sự ổn định gần như tuyệt đối về tỉ giá trao đổi giữa các đồng tiền lớn đã biến mất. Các cường quốc trên thế giới lần lượt thả nổi tỉ giá của đồng tiền nước mình với USD. Tuy nhiên, cơ chế tỉ giá cố định không vì thế mà bị biến mất; Nó vẫn tiếp tục hiện diện nhưng dưới những hình thức khác nhau. Bảng 1 mô tả tám chế độ tỉ giá theo phân loại của IMF. Số lượng các quốc gia áp dụng từng chế độ tỉ giá đó trên thực tế trong hai năm 1997 và 2008 cũng được thể hiện trong bảng. Mặc dù có sự đa dạng trong việc lựa chọn các chế độ tỉ giá giữa các nước nhưng về cơ bản có hai xu hướng sau được hình thành khá rõ nét.

Xu hướng 1: Chuyển dịch mạnh từ chế độ hai (nhiều) Tỉ giá (dual or multiple exchange rates) Sang chế độ tỉ giá thống nhất (unified exchange rate)


Kể từ những năm 1990 trở lại đây, xu hướng chuyển sang chế độ tỉ giá thống nhất đã trở thành xu hướng mang tính toàn cầu. Hình 1 thể hiện xu hướng này. Từ tỉ lệ 38% các nước trong danh mục quan sát của IMF áp dụng chế độ hai hoặc nhiều tỉ giá, con số này đã giảm xuống còn khoảng 7% vào năm 2001. Nghiên cứu của Rogoff et al. (2004) Cho thấy rằng các chế độ hai tỉ giá là nguyên nhân khiến cho nền kinh tế bị méo mó nặng, kìm hãm sự tăng 7 trưởng kinh tế, và gây ra lạm phát cao. Các nhà nghiên cứu này chỉ ra rằng trong giai đoạn 1970-1999, nhóm các nước áp dụng chế độ hai tỉ giá có mức tăng trưởng kinh tế trên đầu người chỉ có 0,6%/năm, trong khi đó nhóm các nước áp dụng chế độ tỉ giá thống nhất, tỉ lệ này khoảng 1,8%. Tương tự, mức lạm phát hằng năm ở nhóm các quốc gia áp dụng chế độ hai tỉ giá thường rất cao, lên đến 175%; Trong khi ở nhóm các quốc gia áp dụng chế độ tỉ giá thống nhất chỉ khoảng 22%.

Hình 1. Tỉ lệ các nước sử dụng chế độ hai tỉ giá trên thực tế, 1973-2001

Hình 1. Tỉ lệ các nước sử dụng chế độ hai tỉ giá trên thực tế, 1973-2001

Nguồn: Rogoff et al. (2004) Hình 2.2 8

Bảng 1. Các cơ chế tỉ giá theo phân loại của IMF

Bảng 1. Các cơ chế tỉ giá theo phân loại của IMF

Nguồn: IMF (2000) Và IMF (2008)

Ghi chú: (*) Cơ chế tỉ giá của Việt Nam đến tháng 4/2008 được IMF xếp vào nhóm Neo cố định. Tuy nhiên, theo chúng tôi, nếu xét một quá trình thì cơ chế tỉ giá của Việt Nam nên được xếp vào nhóm Neo tỉ giá có điều chỉnh.

Xu hướng 2: Dịch chuyển về hai thái cực chế độ tỉ giá


Xu hướng lựa chọn chế độ tỉ giá thứ hai trong hai thập kỉ gần đây là việc các quốc gia có xu hướng dịch chuyển về hai cực chế độ tỉ giá: Cố định và thả nổi. Xu hướng này củng cố giả thuyết “không có chỗ đứng bền vững cho các chế độ tỉ giá “đứng giữa”. Hình 2 cho thấy số lượng các nước đứng giữa hai thái cực có xu hướng giảm dần trong thập niên 1990. Đến 2008, số nước thuộc nhóm này chỉ chiếm chưa đến 7% (Bảng 1).

Cũng cần lưu ý là mặc dù có sự dịch chuyển sang hai thái cực nhưng xu hướng dịch về hướng cơ chế tỉ giá thả nổi tỏ ra mạnh hơn. Chế độ tỉ giá tương đối cố định dường như phù hợp cho các nước đang phát triển với độ mở của nền kinh tế thấp hoặc các nước có nền kinh tế nhỏ, phụ thuộc mạnh vào một quốc gia lớn. Chế độ tỉ giá này có thể giúp chính phủ của các quốc gia đang phát triển duy trì được tín nhiệm của mình, nhờ đó giúp nền kinh tế có được mức lạm phát thấp hơn với mức hi sinh tăng trưởng thấp hơn và ngăn chặn khủng hoảng tốt hơn (Rogoff et al., 2004). Nó cũng được một số nước lớn có quỹ dự trữ ngoại hối lớn, như Trung Quốc trong những năm gần đây, áp dụng để thúc đẩy tăng trưởng thông qua xuất khẩu và thu hút đầu tư nước ngoài.

Tuy nhiên, đối với các nước mới nổi (emerging economies[8]), với độ mở của nền kinh tế lớn, chế độ tỉ giá cứng nhắc là nguyên nhân chính dẫn đến các cuộc khủng hoảng ngân hàng và khủng hoảng cán cân thanh toán (Rogoff et al., 2004.). Hơn nữa chế độ tỉ giá cứng nhắc cũng không chứng tỏ được là có thể giúp cho nền kinh tế có lạm phát thấp và tăng trưởng cao. Đây là lí do chủ yếu khiến các nước mới nổi chuyển dịch sang chế độ tỉ giá linh hoạt hơn. Còn với các nước phát triển (advanced economies), chế độ tỉ giá thả nổi mang lại tăng trưởng và không gây ra lạm phát. Với hệ thống tài chính tương đối hoàn thiện, tỉ giá thả nổi đóng vai trò quan trọng trong việc giảm các tác động của các cú sốc kinh tế trong nước cũng như từ nước ngoài.

Hình 2. Phân loại các chế độ tỉ giá áp dụng trên thực tế của IMF, 1990-2001

Hình 2. Phân loại các chế độ tỉ giá áp dụng trên thực tế của IMF, 1990-2001

Nguồn: Hình 2.6, Rogoff et al. (2004)

Ghi chú: Báo cáo của IMF giai đoạn trước 2004, xếp các nước trong khu vực đồng tiền chung châu Âu vào nhóm Linh hoạt thấp. Tuy nhiên, khu vực này đã được chuyển sang nhóm các nước có chế độ thả nổi từ năm 2008.

Sự dùng dằng của một số nước mới nổi khi chuyển từ chế độ neo tỉ giá sang chế độ tỉ giá thả nổi được quy cho cái gọi là “nỗi lo sợ thả nổi tỉ giá”  (fear of floating). Calvo và Reinhart (2002) Lập luận rằng nỗi lo sợ thả nổi tỉ giá xuất phát từ các lí do như lo lắng về việc mất tín nhiệm chính sách, lo sợ về hiệu ứng “bệnh Hà Lan’ (Dutch disease) Nếu như đồng tiền tăng giá mạnh, và lo sợ về lạm phát và tăng nợ nước ngoài (currency mismatches) Trong trường hợp đồng tiền mất giá mạnh. Việc áp dụng một số các biện pháp can thiệp như kiểm soát nguồn vốn, sử dụng quỹ dự trữ ngoại hối nhằm đạt mức tỉ giá mục tiêu (ngầm định) Để hạn chế các tác động do thả nổi tỉ giá thường xuyên được các quốc gia mới nổi áp dụng khi dời bỏ chế độ neo tỉ giá.

Các xu hướng lớn về tỉ giá trên thế giới sau khủng hoảng 2007-2009

............................
........................

LINK ĐỌC TOÀN BỘ Bài Báo Khoa Học Nghiên Cứu Kinh Tế Vĩ Mô Việt Nam  Lựa chọn chính sách tỷ giá trong bối cảnh phục hồi kinh tế

===============

Thứ Bảy, 27 tháng 2, 2016

NGHIÊN CỨU SỰ NGỤY TẠO TRÍ THỨC



Friedrich August Von Hayek - Đinh Tuấn Minh dịch và chú thích



Hiện tượng thất nghiệp trên diện rộng hiện nay có nguyên nhân sâu xa từ việc áp dụng phương pháp nghiên cứu duy khoa học trong các lý thuyết kinh tế học phổ biến gầy đây. Đó là phương pháp nghiên cứu bắt chước phương pháp nghiên cứu dựa trên khả năng đo lường chính xác, được xem là thành công trong lĩnh vực khoa học tự nhiên. Tuy nhiên, các hiện tượng kinh tế nói riêng và các hiện tượng xã hội nói chung là các hiện tượng phức, nơi khả năng đo lường các khía cạnh của hiện tượng bị hạn chế. Vì thế, việc bắt chước áp dụng các phương pháp nghiên cứu thành công trong lĩnh vực tự nhiên vào lĩnh vực xã hội tất sẽ dẫn đến những hậu quả tai hại cho nền văn minh của loài người.


bai bao khoa hoc,triet hoc va ly luan kinh te,su nguy tao tri thuc, friedrich august von hayek,dinh tuan minhCó hai lý do khiến tôi khó có thể khước từ lựa chọn chủ đề này. Thứ nhất đây là cơ hội đặc biệt để trình bày. Tiếp đến, đây là thời điểm mà các nhà kinh tế học đang phải đối mặt với vấn đề thực tiễn cơ bản. Dưới con mắt của công chúng, việc trao giải Nobel cho chuyên ngành khoa học kinh tế gần đây chứng tỏ chuyên ngành này đã có những tiến bộ đáng kể, đáng được ghi nhận và kính trọng tương tự như các nghành khoa học tự nhiên. Và tại thời điểm này, công chúng đang trông đợi các nhà kinh tế đưa ra các giải pháp để giúp cho thế giới tự do tránh khỏi sự đe dọa nghiêm trọng của nạn lạm phát đang gia tăng; và chúng ta phải thừa nhận rằng nguyên nhân của vấn nạn này bắt nguồn từ các chính sách được đa số các nhà kinh tế khuyến nghị, thậm chí thúc giục, chính phủ theo đuổi. Thực sự thì hiện tại chúng ta chẳng có gì đáng để tự hào: chúng ta, những chuyên gia kinh tế, đã làm mọi thứ trở nên hỗn loạn.


Theo tôi, việc các nhà kinh tế học thất bại trong việc đưa ra chính sách tốt có quan hệ chặt chẽ với khuynh hướng bắt chước gần như y nguyên các phương pháp nghiên cứu áp dụng trong các ngành khoa học tự nhiên. Mặc dù các phương pháp này đã thành công rực rỡ trong đúng lĩnh vực của nó nhưng việc cố gắng bắt chước chúng trong lĩnh vực của chúng ta có khả năng dẫn đến những sai lầm khôn lường. Đó chính là cái cách tiếp cận mà tôi gọi là “duy khoa học” và cách đây 30 năm tôi đã viết về nó như sau: “là hoàn toàn phi khoa học theo nghĩa đen của ngôn từ, bởi nó liên quan tới việc ứng dụng một cách máy móc và thiếu tính phê phán các thói quen tư duy hình thành trong lĩnh vực này vào các lĩnh vực khác”[3].


Trong bài thuyết trình ngày hôm nay, cho phép tôi bắt đầu bằng việc lý giải tại sao việc áp dụng cách tiếp cận “duy khoa học’ sai lầm này lại trực tiếp gây ra một số sai lầm chết người trong chính sách kinh tế gần đây.


Lý thuyết dẫn dắt chính sách tài chính và tiền tệ trong 30 năm qua có thể gói gọn lại trong một mệnh đề như sau: tồn tại mối tương quan thuận chiều giản đơn (simple positive correlation) giữa tổng lực lượng lao động và tổng cầu về hàng hóa và dịch vụ. Đây là lý thuyết mà tôi cho rằng là sản phẩm của cách tiếp cận “duy khoa học” sai lầm nói trên. Lý thuyết này khiến chúng ta tin rằng chúng ta hoàn toàn có thể đảm bảo được tình trạng toàn dụng lao động bằng cách duy trì tổng chi tiêu danh nghĩa (total money expenditure) ở một mức độ thích hợp. Có rất nhiều lý thuyết khác nhau được đưa ra để lý giải tình trạng thất nghiệp lan tràn, nhưng đây có lẽ là lý thuyết duy nhất được hỗ trợ mạnh mẽ bằng các các bằng chứng định lượng. Tuy nhiên, tôi coi đây là một sai lầm cơ bản và việc áp dụng lý thuyết này, như giờ đây chúng ta nhận thấy, dẫn đến những hậu quả rất tai hại.


Vậy vấn đề cốt yếu ở đây là gì? Không giống như trong khoa học tự nhiên, trong kinh tế học cũng như trong những ngành học thuật phải giải quyết những hiện tượng có bản chất phức, số lượng các khía cạnh của sự kiện đang xem xét có thể thu thập được dữ liệu định lượng thường rất hạn chế, và có thể đấy lại là các khía cạnh không quan trọng. Trong khi trong các ngành khoa học tự nhiên, chúng ta thường giả định, với lý do xác đáng, rằng bất kỳ yếu tố quan trọng, đóng vai trò quyết định đối với sự kiện đang xem xét đều có thể quan sát và đo lường trực tiếp được, thì chúng ta lại hầu như không thể làm được như vậy trong nghiên cứu các hiện tượng phức, chẳng hạn thị trường, bởi thị trường là hiện tượng phụ thuộc vào hành động của nhiều cá nhân, là kết quả của một quá trình được quyết định bởi vô vàn các yếu tố mà chúng ta rất khó biết được tường tận và đo lường đầy đủ. Và trong khi nhà nghiên cứu trong các ngành khoa học tự nhiên có thể, trên nền tảng một lý thuyết tạm được chấp nhận là đúng (prima facie theory), đo lường được những yếu tố mà anh ta cho là quan trọng thì trong các ngành khoa học xã hội thường chỉ những gì có thể đo lường được mới được anh ta coi là quan trọng. Và điều này đôi lúc đẩy người ta tới chỗ phải xây dựng các lý thuyết về xã hội theo hướng chỉ bao gồm các yếu tố đo lường được.


Đòi hỏi kiểu như vậy, không nghi ngờ gì, đã loại bỏ một cách khá tùy tiện những dữ kiện (facts) được thừa nhận có thể là nguyên nhân của sự kiện diễn ra trong thực tế. Quan điểm này, một quan điểm thường được dễ dãi chấp nhận như là điều kiện bắt buộc của một quy trình khoa học đúng đắn, đã dẫn đến một số hậu quả khá nghịch lý. Dĩ nhiên, chúng ta biết rằng đa phần các dữ kiện liên quan đến thị trường và những cấu trúc xã hội tương tự là không thể đo lường được; thực ra, chúng ta chỉ biết một số ít thông tin khái quát và thiếu chính xác về chúng. Và bởi ảnh hưởng của các dữ kiện này trong bất kỳ trường hợp cụ thể nào đều không thể xác nhận được bằng bằng chứng định lượng, chúng đơn giản sẽ bị những người tuân thủ qui tắc khoa học chỉ chấp nhận những cái được chứng thực bằng bằng chứng định lượng bỏ qua: những người này tiếp tục hài lòng với câu chuyện rằng chỉ những yếu tố có thể đo lường được mới là những thứ có liên quan.


Chẳng hạn, mối tương quan giữa tổng cầu và tổng lực lượng lao động có thể chỉ mang tính tương đối, nhưng vì đó là mối quan hệ duy nhất chúng ta có dữ liệu định lượng nên nó được chấp nhận như là mối quan hệ nhân quả duy nhất có ý nghĩa. Nếu dựa trên chuẩn mực [định lượng] này, chúng ta có thể dễ dàng tìm thấy bằng chứng “khoa học” có lợi cho một lý thuyết sai lầm thay vì cho một lý thuyết đúng đắn; lý thuyết sai lầm được chấp nhận vì nó có vẻ “khoa học” hơn, còn lý thuyết đúng đắn bị bác bỏ vì thiếu bằng chứng định lượng ủng hộ. Để minh họa điều này, tôi xin trình bày ngắn ngọn nguyên nhân chính gây ra nạn thất nghiệp trên diện rộng; việc chỉ ra nguyên nhân này cũng là lời giải đáp cho câu hỏi tại sao không thể giải quyết được vĩnh viễn vấn đề thất nghiệp bằng chính sách lạm phát theo khuyến nghị của lý thuyết đang thịnh hành. Theo tôi, nạn thất nghiệp tồn tại là vì có những bất tương thích giữa:

(i) phân bố cầu (distribution of demand) giữa các loại hàng hóa và dịch vụ khác nhau và

(ii) phân bổ lao động và các nguồn lực khác cho việc sản xuất ra các sản phẩm đầu ra đó. Chúng ta có hiểu biết “định tính”  khá tốt về các lực lượng làm cho cung và cầu trong các khu vực khác nhau của hệ thống kinh tế tương thích nhau, về các điều kiện để sự tương thích đó diễn ra, và về các yếu tố có thể cản trở quá trình dẫn đến sự tương thích đó.

........................
=====================

Nghiên cứu Kinh tế học và Triết học của Chủ nghĩa xã hội



Nghiên cứu Kinh tế học và Triết học của Chủ nghĩa xã hội[1]


Norman Barry[2] -TS. Nguyễn Đức Thành dịch và chú thích[3]

1. Nguồn gốc của cuộc tranh luận về ‘tính toán’ xã hội chủ nghĩa[4]

 

Có một thực tế lạ lùng trong lịch sử tư tưởng chính trị và xã hội của thế kỷ này, đó là hai hệ thống kiến giải xã hội mang tính lý thuyết và duy lý, thống trị mạnh mẽ nhất, một bên là những người theo chủ nghĩa cá nhân tự do cổ điển và bên kia là những người theo chủ nghĩa tập thể, lại rất hiếm khi đối đầu nhau một cách trực tiếp trong lãnh địa của những phép tắc khảo cứu khoa học. Bất chấp dung lượng khổng lồ của chúng, những bài viết trong các ngành triết học xã hội này chẳng mấy khi được viết ra theo cách cho phép đi tới những giải pháp rốt ráo cho hàng loạt vấn đề chúng đặt ra: thay vào đó, chúng xuất hiện như những công trình kiến trúc vĩ đại, với nhiều tầng bậc mỹ thuật khác nhau, đứng kế bên nhau chứ không phải trên cùng một mảnh đất chung. Như những bà nội trợ xứ Glaswegia[5] gân cổ lên cãi nhau từ hai bên hè phố, người theo chủ nghĩa cá nhân và người theo chủ nghĩa tập thể dường như luôn luôn tranh luận từ hai hệ tiền đề khác nhau. Như người được giải Nobel về Khoa học Kinh tế George Stigler[6] từng nói, những cuộc tranh luận giữa những người xã hội chủ nghĩa’ và những người ‘tư bản chủ nghĩa’ là không ăn khớp với nhau (‘unjoined’)[7].

Tuy nhiên, sự chệch choạc này, theo Stigler, hoàn toàn bắt nguồn từ sự thất bại của cả hai phe khi đánh giá các kết quả thực tiễn của những lập luận tương ứng của họ. Theo một lối ‘thực chứng’ điển hình, ông tuyên bố rằng chỉ ‘bằng chứng thực tế’ (evidence) mới có thể giải quyết được sự bất đồng giữa các hệ tư tưởng.

Trái với quan điểm trên, cần phải nhấn mạnh rằng những nhận định thực nghiệm riêng nó không bao giờ có thể mang tính quyết định trong các lập luận triết học về chính trị và xã hội. Nguyên nhân một phần vì dữ liệu trong lĩnh vực xã hội là rất phức tạp, không thể kiểm soát, mang tính tạm thời và lộn xộn. Rõ ràng là, những thất bại hiển nhiên của việc kế hoạch hoá tập trung nhằm tối đa hoá các mục tiêu xã hội chủ nghĩa đã không làm thay đổi ngay cả những người theo chủ nghĩa tập thể có đầu óc thực nghiệm, dù những thất bại này chắc chắn làm anh ta thất vọng. Anh ta luôn có thể quy kết chúng cho những tình huống không thuận lợi, những thứ hiển nhiên là không thể tránh khỏi, chứ không phải do một số sai sót nội tại trong lý thuyết của anh ta. Nhưng, quan trọng hơn, mọi lập luận thực chứng trong khoa học xã hội đều sống ký sinh trên một lý thuyết tổng quát nào đó, đòi hỏi một cơ sở mang tính triết học nhiều hơn. Vấn đề đã được nêu lên và trả lời bởi người theo chủ nghĩa cá nhân là tại sao những thất bại rõ ràng như thế của chủ nghĩa tập thể đã diễn ra: phải như thế thì sau đó anh ta mới có thể nói một cách tự tin rằng, những thất bại đó thực chất là những đặc điểm không thể khắc phục được của lâu đài kinh tế học xã hội chủ nghĩa.

Tất nhiên, đây là một vấn đề cực kỳ nan giải: liệu những cuộc tranh cãi trong triết học xã hội có thể được làm cho “ăn khớp” với nhau theo một cách thức nào đó, mà không phải theo lối thực nghiệm (và do đó chỉ liên hệ với nhau một cách cục bộ) hay không, câu hỏi này bản thân nó nhất định vẫn cứ là một đối tượng của sự bất đồng quan điểm thường hằng. Tuy nhiên, đã có một cuộc tranh luận trong lịch sử tư tưởng kinh tế, “cuộc tranh luận về tính toán” nổi tiếng giữa các nhà kinh tế xã hội chủ nghĩa và tư bản chủ nghĩa trong những năm 1920 và 1930, mà trong cuộc tranh luận đó những người tham gia không đứng tranh cãi trên những mảnh đất khác nhau, mà dường như ở trong cùng một khuôn khổ lý thuyết chung. Thêm vào đó, không những họ không tranh luận về “thực tiễn”, mà trái lại, không có bên nào trong số họ bị xô đẩy bởi bất cứ một hiện tượng thực tế nào. Từ quan điểm của lịch sử tư tưởng kinh tế, cuộc tranh luận này đã được các nhà kinh tế khảo cứu cẩn thận rồi. Thật vậy, cho tới tận gần đây, vẫn có một sự đồng thuận giữa các nhà kinh tế chuyên nghiệp rằng, theo một nghĩa trừu tượng hay lý thuyết nào đó, các nhà kinh tế xã hội chủ nghĩa đã “thắng”[8]. (Bất kể những vấn đề đạo đức, chính trị và thực tế khá hiển nhiên, những thứ vẫn có thể làm sự chống đối kế hoạch hóa xã hội chủ nghĩa trở thành dứt khoát). Mục đích của bài viết này là chứng tỏ rằng kết luận trên là sai lầm xét từ quan điểm của lý thuyết kinh tế. Tuy nhiên, người ta cũng biết rằng cuộc tranh luận về tính toán không thuần tuý chỉ liên quan đến kinh tế học; nó còn liên quan đến những vấn đề rộng lớn hơn của triết học xã hội, mà đa phần đã không được những người trong cuộc thừa nhận một cách công khai.


[1] Tiểu luận này lần đầu tiên xuất hiện trên Il Politico, một tạp chí về Khoa học Chính trị của Italia (Trường Đại học Pavia), Tập XLIX, Số 4, năm 1984. Nguồn: Bút ký kinh tế, số 6 - The Libertarian Alliance, 1986.
[2] Norman Barry là Giáo sư Chính trị học tại Trường Đại học Buckingham, là tác giả của các bộ sách: Nhập môn Lý thuyết Chính trị Hiện đại, Triết học Kinh tế và Xã hội của Hayek, Pháp quyền mới, và Bàn về Chủ nghĩa Tự do Cổ điển và Chủ nghĩa Tự do-Vị lợi Cổ điển.
[3] Trường Kinh Tế ĐH Quốc Gia Hà Nội.
[4] "Tính toán xã hội chủ nghĩa" (Socialist Calculation) là đối tượng của một trong những cuộc tranh luận lớn nhất trong lịch sử kinh tế học thế kỷ XX, mà bài viết sau đây sẽ đề cập tới. Cuộc tranh luận xoay quanh vấn đề liệu một nền kinh tế xã hội chủ nghĩa kế hoạch hoá có thể thay thế việc tính toán của thị trường (tự do) trong việc phân bổ nguồn lực và điều tiết giá cả hay không. Nếu tính toán xã hội chủ nghĩa không thay thế được thị trường, thì coi như Chủ nghĩa xã hội là không khả thi về mặt lý thuyết, và tất yếu sẽ bị thủ tiêu. Chú thích đánh dấu (*) đi trước con số là của người dịch (ND), đặt ở cuối trang, chú thích đánh số trong ngoặc là của tác giả, đặt ở cuối bài theo nguyên tác.
[5] Miền đất phía Tây Bắc Scotland, nổi tiếng với những bà vợ ghê gớm.
[6] George J. Stigler (1911-1991), nhận giải Nobel về Kinh tế học năm 1982, "vì những nghiên cứu đột phá của ông về cấu trúc ngành, chức năng của thị trường và những nguyên nhân và hậu quả của điều tiết công" (Hội đồng trao giải Nobel 1982). Stigler còn được giới kinh tế học kính trọng với tư cách một sử gia tư tưởng kinh tế sắc sảo và độc đáo.
[7] G. Stigler, Công dân và Nhà nước, Chicago, Nxb trường Đại học Chicago, 1975, tr. 1-13.
[8] Xem A. Bergson, ‘Chủ nghĩa xã hội’ trong Howard Ellis (ed.), Khảo cứu về Kinh tế học đương đại,Illinois, Homewood, 1952.



Đọc toàn bộ bài báo khoa học - Nghiên cứu Kinh tế học và Triết học của Chủ nghĩa xã hội

=================

CUỘC ĐỜI DANH NHÂN NGUYỄN VĂN SIÊU - CUỘC ĐỜI VÀ VĂN NGHIỆP

CUỘC ĐỜI DANH NHÂN NGUYỄN VĂN SIÊU  - CUỘC ĐỜI VÀ VĂN NGHIỆP


Trần Lê Sáng - Nguyễn Đình Chú




Nguyễn Văn Siêu 阮 文 超 (1799-1872), húy là Định 定, sinh vào giờ Sửu ngày mồng Ba tháng Bảy năm Kỷ Mùi (1799) [1]. Theo bộ Chính phả họ Nguyễn ở Kim Lũ 金 纑 阮 氏 正 谱, có thể do Chính Nguyễn Văn Siêu viết, thì “Thủy tổ họ Nguyễn người xã Kim Lũ, thôn Trung (xã Kim Lũ có 3 thôn là thôn Cầu 梂, thôn Trung 中 và thônVăn 文), tổng Khương Đình 姜 亭, huyện Thanh Trì 青 池, phủ Thường Tín 常 信, trấn Sơn Nam 山 南 (nay là Hà Nội)“. Thân phụ Nguyễn Văn Siêu là Nguyễn Công Bảo, do hoàn cảnh gia đình, đã đến ở với bà cô rồi định cư ở phường Đông Các 東 閣 huyện Thọ Xương 壽 昌 (nay thuộc quận Hoàn Kiếm, Hà Nội). Đến Nguyễn Văn Siêu là đời thứ hai. Nhưng khi viết Chính phả, Nguyễn Văn Siêu vẫn lấy thôn Trung, xã Kim Lũ, tổng Khương Đình, huyện Thanh Trì làm nguyên quán.


Huyện Thanh Trì là quê hương của nhiều danh nhân xưa, như Chu Văn An 朱 文 安 (1292-1370), người thôn Văn; Bùi Huy Bích 裴 辉 璧 (1744-1818), người Thịnh Liệt; Nguyễn Công Thái 阮 公 彩 (Thế kỷ XVIII), người cùng làng và cùng họ Nguyễn, được phong tước Kiều Quận công 喬 郡 公 triều vua Lê Dụ Tông, nay còn đền thờ Nguyễn Tướng Công từ 阮 相 公 祠. Kim Lũ, tục gọi làng Lủ, xưa là Vùng nông nghiệp trù phú, nhiều hồ đầm, có sông Tô Lịch chảy qua, lại có nghề làm kẹo bột nổi tiếng. Con gái nhiều nơi thường vẫn muốn lấy chồng về đây. Đây Là vùng đất cổ, là nơi có truyền thống văn hóa lâu đời. Đầu làng có cổng làng cổ kính, cao rộng; Ngoài đề Quan miện 冠 免; Trong đề Cung kính chỉ 恭 敬 止. Có Đôi câu đối: Giáng vân tại tiêu cam lộ bố vọng, Thanh phong động trúc minh nguyệt lâm trì (Mây phủ xuống ban đêm, điềm lành toả khắp/Gió mát lay động cành trúc, trăng sáng dõi mặt ao (Giáng vọng – Thanh trì)).


Nguyễn Văn Siêu có bài Độc Chu Văn Công thi (Đọc thơ Chu Văn An): Phiên âm Đào Hàn Lý Đỗ đa tham thủ Nhất tảo phân vân vãn thế âm Bình thực tận vô kinh khoái ngữ Dịch thơ


Thung dung bất giả tiếu thằng tâm

Di phong viễn vận hà do tưởng

Tề nguyệt quang phong thử lý tầm

Lục tịch dĩ lai thi nhất nghệ

Tính tình đắc xứ diệc vi thâm


(Anh ngôn thi tập)


Đào Hàn Lý Đỗ[2] từng xem đủ

Đọc đến thơ nay những động tâm

Bình dị mà thơ trong sáng lạ

Ung dung lý vẫn chặt vô cùng

Vần lời lưu loát muôn vàn tứ

Trăng gió đâu đây khó kiếm tầm

Sáu sách xưa nay thơ đệ nhất

Tâm tình thanh thản lại cao thâm


Từ thôn Trung quê Nguyễn Văn Siêu đến thôn Văn quê Chu Văn An đường Đi chưa đến vài cây số, có lẽ Nguyễn Văn Siêu cũng thường cùng bạn bè, trong đó có Cao Bá Quát 高 伯 括 (1808-1854), đến thăm đền Đức Thánh Chu. Với Bùi Huy Bích, Nguyễn Văn Siêu đã viết. Trong bài Hành trạng Tiên sinh Bùi Tồn Am Tướng công (Phương Đình văn loại): ”Siêu tôi là người cùng huyện, là hàng con cháu hậu sinh; Khi ông còn, tôi đã đến tuổi đội mũ, nhưng không được đến học. Những trước thuật, sáng tác của ông tôi vẫn thường được đọc ở nhà thầy Lập Trai, thầy bắt phải đọc“. Ông còn viết: “Siêu tôi mỗi lần đọc tế văn của thầy Phạm tế ông, thấy ý trước sau đã viết hết. Người ta chỉ biết được văn chương của ông hay, nhưng như tôi có khi làm được vài câu thơ, vài câu văn, họ bèn nói là tương đắc; Nói vậy là đã không biết tôi, làm sao có thể nói là tương đắc được! Do vậy tôi cứ băn khoăn suy nghĩ, càng nghĩ càng thấy không vượt được mình”.


Theo Chính phả, thân phụ Nguyễn Văn Siêu có đi học, nhưng không đi thi, tính tình trung hậu. Ông mồ côi lúc mới 10 tuổi, gia đình gặp rất nhiều khó khăn, phải đi dạy học nhiều nơi xa để sinh sống. Sức khỏe yếu nên mới 53 tuổi đã qua đời (Mậu Tý – 1828). Hai năm sau (Tân Mão-1831), bà cũng mất, thọ 55 tuổi.


Năm 7,8 tuổi, Nguyễn Văn Siêu đã theo cha học viết chữ, đọc sách, nhưng không cho làm văn. Năm 13,14 tuổi đã tự làm câu đối treo ở phòng học:


Đạo tự cổ kim vô khúc kính

Thiên đa bồng tất sản cao nhân


(Đạo học xưa nay không có đường tắt

Trời có nhiều nhà tranh lều cỏ giành để sinh ra bậc cao nhân) [3]


Năm 15 tuổi, Định (tức Nguyễn Văn Siêu), theo học thầy Hương cống triều Lê là Thọ Bình Trần Công Tiến 壽 平 陳 公 進 ở Bằng Liệt. Đọc khắp các sách Kinh, Truyện, Chư sử; Rồi được dạy làm thơ, viết văn xuôi như các loại châm, minh, hịch, biểu, luận, biện.. . Lại cho chép tóm tắt tinh yếu thi văn chư gia các đời Hán, Đường, Tống vào sổ tay. Rồi bắt tìm rộng trong điển tích hoặc Y lý cho đến Vũ kinh, có chỗ đáng trích thì cũng phải sao chép, mở rộng kiến văn (Chính phả).


Sau đó, Nguyễn Văn Siêu được gửi theo học Tiến sĩ Lập Trai Phạm Quý Thích 范 贵 適 ở Hoa Đường 華 堂 (có bản chép Lương Đường 良堂), tỉnh Hải Dương. Trường của thầy LậpTrai được tiếng dạy phép cổ văn, cổ thi đúng nề nếp khoa cử. Ông Tá Lĩnh 佐 領 ở La Khê 羅 溪 dẫn Nguyễn Văn Siêu nhập học. Nguyễn Văn Siêu dốc chí vào việc học tập; Bắt đầu sao chép Loại biên 20 quyển, đêm khuya che đèn ghi chép, chưa từng bỏ sót một chữ. Khoa thi hương năm Ất Dậu (1825), ông đi thi đậu á nguyên, tức đậu cử nhân thứ hai. Hơn 10 năm sau, năm Mậu Tuất (1838), Nguyễn Văn Siêu thi hội chỉ đỗ phó bảng (tức phụ bảng). Khoa thi hội này có 10 Phó bảng, theo Huỳnh Thúc Kháng, chỉ có “Nguyễn Văn Siêu là người danh tiếng”  (Nguyễn Như Thiệp, Nguyễn Văn Đề: Ngọn bút thần Nguyễn Văn Siêu).


Chuyện lận đận trong việc thi cử của Nguyễn Văn Siêu, các sách ghi chép có khác nhau. Theo Ngọn bút thần Nguyễn Văn Siêu thì “Thần Siêu học thông như thần, song chữ viết thì xấu như ma thật. Thế nên vua Tự Đức có thơ đùa rằng:


Thần đâu mà chữ xấu như ma

Lem lọ cho người ngó chẳng ra

Nếu phải họa phù trừ quỷ tặc

Khôn thiêng thì phải hộ Hoàng gia

.. . Nhưng theo ngu ý, thì một người nào văn đã hay thì chữ phải xấu mới đúng.

Không lẽ một người mà vừa có hoa bút, vừa có hoa tay?“ … (Tr. 27).


Theo Hoàng Hữu Yên trong Văn học Việt Nam thế kỷ XVIII nửa đầu Thế kỷ XIX (Nxb. Giáo Dục, Hà Nội, 1962) Thì cả Cao Bá Quát và Nguyễn Văn Siêu sở dĩ thi hỏng nhiều lần một phần vì không chịu tuân theo khuôn khổ của lối văn trường ốc, nhưng phần chính vì bọn quan trường ghen tài. Tác giả sách này nói: ”Theo ông (Nguyễn Văn Siêu), thi cử đã làm hư hỏng trí tuệ của học trò“; Chạy theo thi cử chỉ là cái lối “trộm cắp những lời nói cũ” và đâm đầu vào “bùn lấm”.. . Chính Nguyễn Văn Siêu trong bài Hai loại văn chương cũng viết: “Phàm những kẻ chỉ cầu mong thi đỗ, ngoài ra không còn một cái học nào khác. Họ không biết rằng: Tu sửa cái gốc, thì cái ngọn cũng dầy lên. Nếu chỉ che đậy qua loa cái trách nhiệm gần thì bỏ mất trách nhiệm xa“ (Từ trong di sản; Nxb Tác phẩm mới, Hội nhà văn Việt Nam, Hà Nội, 1981, tr. 126).


Cũng theo bộ Kim Lũ Nguyễn Thị Chính phả, khi Định đã đỗ cử nhân thì đem tất cả sách nhâm môn độn ất đốt hết, vì cho rằng các sách này không nên học. Chỉ đọc sách Nội kinh để chữa bệnh; Đọc sách địa lý để biết tính hình sông núi để lúc làm văn không bị nhầm lẫn.


Nguyễn Văn Siêu còn cho biết, ông rất thích phong thủy, ưa nhất là núi sông vùng An Sơn Thạch Thất. Mỗi năm đến mùa xuân, thường cùng bè bạn và học trò đi chơi, có bận đến mươi ngày. Khi về nói cùng mọi người nói về ngôi mộ Tổ ở Kim Lũ. Nói rằng địa mạch ven sông Tô là đoạn hoành lạc long hành mã tích đáng yêu, nhưng hiển lộ sự thiếu hàm súc, ngoại nhược hữu dư nội bất túc. Bên hữu sa thế mạnh, hợp với chi thứ; Bên tả sa tà phi, long thủy không đến nhà thờ, chi Trưởng không phát.

..............................................

LINK ĐỌC TOÀN BỘ BÀI BÁO KHOA HỌC CUỘC ĐỜI DANH NHÂN NGUYỄN VĂN SIÊU  - CUỘC ĐỜI VÀ VĂN NGHIỆP


====================